Tại sao nói Ả Rập là nhà nước hồi giáo điển hình?

Bán đảo Ả Rập nằm ở ngã 3 nối liền 3 châu lục: Châu Á, Châu Âu và Châu Phi, vì vậy đây là đầu mối giao thông quan trọng thời cổ đại, là nơi giao lưu của 2 nền văn hóa Phương Đông và Phương Tây. Nhưng phần lớn diện tích của bán đảo lại là sa mạc, khí hậu khắc nghiệt nên tạo được sự tách biệt với các nền văn hóa bên cạnh, góp phần hình thành xã hội với nền văn hóa đặc trưng, khác biệt. Đây chính là cái nôi của Hồi Giáo, Ả Rập là nhà nước hồi giáo điển hình với đầy đủ các nét đặc trưng.

1. Nhà nước Ả Rập tuân theo giáo lý của Hồi Giáo

Hồi Giáo xuất hiện ở bán đảo Ả Rập vào thế kỉ thứ VII, Ả Rập Xê Út chính là quê hương của Hồi giáo, từ xưa người Ả Rập đã sống cuộc sống du canh, du cư, vì vậy đòi hỏi thành lập một tổ chức có kỉ luật, đoàn kết chặt chẽ, thống nhất các bộ lạc trong bán đảo thành một nhà nước thần quyền, chỉ tin vào một tôn giáo độc thần thay vì đa thần như trước.

Giáo lý của Hồi Giáo rất nghiêm khắc và phức tạp với  nhiều nghi lễ, nhiều khi được xem như chuẩn mực của xã hội chứ không đơn giản là một điều lệ của tôn giáo. Kinh Coran chính là giáo lý của nhà nước Hồi Giáo, đây là lời nói của Mohamet, đây được xem là những lời của thần Allah truyền lại cho Mohamet, vì vậy người dân tại bán đảo Ả Rập tuyệt đối tin và tuân theo. Những điều cơ bản trong giáo lý Hồi Giáo có thể kể đến như:

  • Chỉ thờ thần Allah, thần Allah là đấng tối cao, sinh ra vạn vật
  • Tất cả mọi người đều bình đẳng trước thần Allah, nhưng số phận và tài năng là khác nhau
  • Số phận của con người là do thần Allah sắp đặt
  • Tín đồ Hồi Giáo phải luôn có thái độ đúng đắn: phục tùng thần Allah, kiên định bảo vệ lợi ích của người Hồi Giáo, có tinh thần thánh chiến, sống nhân từ, công bằng, thưởng phạt công minh, phải nhẫn nại, tin vào sự công minh và sự định đoạt của thần Allah
  • Cấm ăn thịt lợn và chất có men
  • Trung thực, không trộm cắp, tuyệt đối tuân thủ các nghi lễ Hồi Giáo

2. Tuyệt đối tuân theo các tín ngưỡng Hồi Giáo

Người Ả Rập có niềm tin vào thần Allah, sứ giả Mohammed, thiên sứ, thiên kinh, hậu thế. Thần Allah là vị thần duy nhất, tín ngưỡng chỉ thờ độc thần, tự sinh và bất tử, Allah là thần sáng tạo ra cả thế giới. Người Hồi Giáo không thờ hình ảnh của thần Allah vì không có hình tượng nào đủ để thể hiện thần Allah.

Tin vào sứ giả Mohammed, người dân Ả Rập nói riêng và các tín đồ Hồi Giáo nói chung tin vào giáo lý, giáo lý cho rằng Mohammed là vị sứ giả cuối cùng và xuất sắc nhất trong số 5 sứ giả mà thần Allah truyền đạt ngôn luận cho con người. Kinh Coran được xem là bộ thiên kinh đầy đủ nhất, là bộ kinh thần thánh duy nhất, đây là bộ kinh mà Allah truyền đạt cho Mohammed.

3. Tuân thủ các nghĩa vụ Hồi Giáo

Người Ả Rập tuân thủ theo hệ thống nghĩa vụ được đưa ra trong kinh Coran và sách Thánh Huấn, 5 nhiệm vụ chính của người Hồi Giáo gồm có:

  • Niệm: thường xuyên niệm thành tiếng tín điều cơ bản
  • Lễ: tín đồ mỗi ngày phải hành lễ 5 lần, sáng trưa chiều tối và đêm. Hàng tuần phải hành lễ ở thánh đường vào thứ 6 vào buổi trưa.
  • Trai: ở đây nhắc đến trai giới có nghĩa là vào tháng 9 theo lịch Hồi Giáo, người dân Ả Rập không được ăn uống, quan hệ tình dục từ khi mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn.
  • Khóa: các tín đồ Hồi Giáo có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ của các hoạt động tình nguyện, có thể dựa trên tinh thần tự nguyện hoặc bắt buộc.
  • Triều: trong cuộc đời mỗi tín đồ Hồi Giáo phải hành hương về thánh đường Mecca ít nhất một lần để triều bái Kabah vào tháng 12, kéo dài trong 10 ngày

4. Đại thánh đường Al Haram – Mecca, Ả Rập Saudi

Ả Rập Xê Út được xem là quê hương của Hồi Giáo, vì vậy đại thánh đường Mecca cũng đặt tại Ả Rập Xê Út, được mở vào năm 638 sau công nguyên, đây là thánh đường rộng nhất và lâu đời nhất trên thế giới. Hàng năm có hàng triệu tín đồ Hồi Giáo hành hương về đây để cầu nguyện trong thời gian Hajj. Tại Ả Rập Xê Út còn có thánh đường Al-Masjid an-Nabawi – Medina do sứ giả Mohammed xây dựng, đây là thánh đường linh thiêng thứ 2 của người Hồi Giáo.

Người dân Ả Rập tuyệt đối tuân thủ theo các giáo lý của Hồi Giáo – kinh Coran, tín ngưỡng hồi giáo, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ Hồi Giáo, vì vậy Ả Rập là nhà nước Hồi Giáo điển hình.

Những diễn biến chính của cuộc chiến tranh Ả Rập – Israel năm 1973

Sau cuộc chiến tranh Ả Rập-Israel lần thứ 3, Ai Cập bị mất 1 phần lãnh thổ vào tay Israel, vì vậy năm 1973, đúng vào ngày lễ Yom Kippur- một trong những ngày lễ thiêng liêng nhất của người Do Thái, Ai Cập và Syria đã dẫn quân tấn công vào Israel. 

1.     Giai đoạn 1: từ ngày 6/10 – 7/10/1967 

Ngày 6/1/1973 khi đất nước Israel đang chìm trong không khí thiêng liêng, tĩnh mịch, tất cả người dân Do Thái đang cầu nguyện trong ngày lễ Yom-Kippur thì cao nguyên Sinai bất ngờ bị oanh tạc bởi 2000 khẩu pháo, tên lửa, kích bích pháo, tên lửa đất đối đất của Ai Cập dội xuống kênh đào Suez báo hiệu cuộc chiến tranh bắt đầu.

Từ sau “cuộc chiến tranh 6 ngày” năm 1967, Israel đã xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố cho các vùng lãnh thổ mới, cộng thêm việc đè bẹp quân đội Arab năm 1967 có lẽ đã khiến Israel quá ngạo mạn, lơ là cảnh giác, khi quân đọi Ai Cập tấn công chưa đầy 1 nửa hệ thống phòng thủ Bar-Lev được canh gác đầy đủ, dẫn đến việc bất ngờ trở tay không kịp.

Đúng 14h00 phút ngày 6/10 pháo binh Ai cập bắt chuẩn bị trong 53 phút, trong thời gian đó hơn 3.000 khẩu pháo và hệ thống pháo phản lực bắn dàn đã bắn trung bình 175 quả đạn pháo/1 giây. Cũng trong lúc đó, Ai Cập đã sử dụng súng phun nước phá hủy hoàn toàn bức tường cất trên phòng tuyến Bar-Lev, 14h15 phút quân đội Ai Cập bắt đầu vượt kênh đào Suez tiến vào bờ Châu Á. Israel bị thiệt hại nặng nề, trong khi đó quân đội Ai Cập chỉ mất 208 lính để vượt kênh đào.

Trên mặt trận Syria, tình hình của quân đội Ai Cập không được khả quan như vậy do quân đội Syria chưa có sự chuẩn bị kĩ, tuy nhiên Syria lại có ưu thế lớn về mặt quân số. Kết quả sau ngày đầu tiên Syria đã chiếm được trạm radar và trung tâm trinh sát điện tử của Israel.

2.     Giai đoạn 2: Israel bắt đầu phản công

Ngày 7/10 Israel bắt đầu phản công, để đẩy lui quân đội Ai Cập, trên mặt đất xe tăng của Israel tham chiến nhưng không có sự hỗ trợ của bộ binh nên tổn thất hơn 200 xe tăng. Quân đội Ai Cập tiếp tục vượt kênh đào và tấn công vào các trận địa phòng ngự đã bị cô lập của israel dọc phòng tuyến Bar-Lev. Trên cao nguyên Goland,  Syria tiếp tục đánh bật quân đội Israel, dù quân đội nước này đã đưa thêm 4 lữ đoàn vào tham chiến, tổn thất nặng nề.

Ngày 8/10 quân đội Israel tiếp tục bị tổn thất nặng, mất 100 xe tăng và hơn 80 máy bay.

Ngày 9/10 Israel lại mất thêm 80 xe tăng, lữ đoàn 190 gần như bị tiêu diệt hoàn toàn tại Sinai. Tại cao nguyên Goland, lữ đoàn 7 và 188 của Israel gần như bị tiêu diệt hoàn toàn, thiệt hại 200 xe tăng, trong khi đó phía Syria cũng thiệt hại lên đến 500 xe tăng.

Ngày 10/10 Israel thiết lập lại được thế trận như trước chiến tranh, 11/10 bắt đầu tấn công về phía Damask

Ngày 12/10, lữ đoàn tăng – thiết giáp số 3 của Iraq bắt đầu tham chiến, nhưng nhanh chóng đại bại , mất 80 xe tăng trong khi Israel không tổn thất

13/10 Israel gặp khó khăn và tổn thất khi đối phó với Syria nhưng đến chiều 13/10 cũng chỉ cách thủ đô Damask 30km

6h00 ngày 14/10 quân đội Ai Cập chia làm 6 mũi tấn công toàn khu vực bán đảo Sinai, kết thúc quân đội Ai Cập thiệt hại nặng nề, mất 264 tăng và gần 200 xe bọc thép, Israel thiệt hại không đáng kể. Ngày 14/10 Mỹ cũng đã đưa vũ khí đến trang bị cho Israel, tận dụng lợi thế, Israel đem quân vượt kênh đào Suez bao vây tiêu diệt ít nhất 1 tập đoàn quân của Ai Cập

3.     Giai đoạn 3: Israel tấn công đợt 2

Ngày 15/10 Israel xuất hiện tại vị trí giữa sư đoàn 16 và 21 của quân đội Ai Cập, xảy ra một cuộc hỗn chiến, Israel thiệt hại 70 – 80 xe tăng, Ai Cập thiệt hại gấp đôi.

Tối 15 rạng sáng 16/10, lữ đoàn lính đổ bộ đuờng không Israel đã đổ bộ lên bờ tây kênh đào gần khu vực Hồ Lớn.

Ngày 17/10, quân đội Israel bắt cầu đầu tiên qua kênh đào, vượt kênh qua bờ Châu Phi, tiêu diệt tập đoàn số 3 của Ai Cập, lữ đoàn tăng số 25 của tập đoàn số 3 Ai Cập được tăng cường nhưng nhanh chóng bị tiêu diệt trong 1 ngày

Ngày 18/10 trên phía tây kênh đào quân đội Israel đã có 3 sư đoàn với hơn 200 xe tăng.

19/10 Israel triển khai chiến dịch quan trọng về phía nam, tiêu diệt 15 tiểu đoàn tên lửa phòng không Ai cập. Mọi nỗ lực phản công của Quân Ai cập đều thất bại.

Ngày 21/10 lính đổ bộ của Israel chiếm lại núi Hermon. Sau khi giành được chiến thắng ngày đầu tiên, Ai Cập đã chịu tổn thất nặng nề, không chỉ thủ đô Damask đứng trước nguy cơ bị tấn công mà thủ đô Cairo của Ai Cập cũng bị đe dọa. Matxcova lại đe dọa điều lính đổ bộ đường không đến để bảo vệ thủ đô Ai cập.

Ngày 24/10/1973 chiến tranh Ai Cập – Israel chính thức kết thúc trên tất cả các mặt trận.

 

Ả Rập Xê Út là nước nào?

Ả Rập Xê Út có tên chính thức là vương quốc Ả Rập Saudi là quốc gia có chủ quyền tại Tây Á, với hầu hết diện tích là sa mạc khô cằn, địa hình cằn cỗi, nhưng lại có nền kinh tế khá mạnh, phụ thuộc chủ yếu vào nguồn tài nguyên dầu mỏ.

1.     Tổng quan về nước Ả Rập Xê Út

  • Tên quốc gia: Vương quốc Ả-rập Xê-út hay vương quốc Ả Rập Saudi
  • Thủ đô: Ri-át.
  • Vị trí địa lý: Nằm trên bán đảo Ả-rập. Bắc giáp Gioóc-đa-ni và I-rắc, Nam giáp Y-ê-men và Ô-man, Tây giáp biển Đỏ, Đông trông ra vịnh Péc-xích (người Ả-rập gọi là vịnh Ả-rập), và vịnh Ô-man. Dọc theo bờ biển phía Đông, Ả-rập Xê-út có biên giới với Cô-oét, Ba-ranh, Ca-ta và Ê-mi-rát.
  • Diện tích: 2,14 triệu km2.
  • Khí hậu: Khắc nghiệt, khô với nhiệt độ cao, mùa Hè vượt quá 50oC.
  • Tài nguyên thiên nhiên: Dầu lửa (trữ lượng khoảng 264,6 tỉ thùng, chiếm 20% trữ lượng thế giới); khí đốt (8,02 nghìn tỉ m3); sắt, đồng, vàng.
  • Đơn vị tiền tệ: Rial (SR); 1 USD = 3,75 SR (2012)
  • Dân số: 26.939.583 người (7/2013)
  • Dân tộc: 90% là người Ả-rập; số còn lại là người gốc Á, Phi.
  • Tôn giáo: Đạo Hồi là Quốc đạo
  • Ngôn ngữ chính: Tiếng Ả-rập
  • Ngày thành lập: 23/9/1932.
  • Thể chế Nhà nước: Quân chủ.

2.    Lịch sử hình thành và phát triển của vương quốc Ả Rập Xê Út

Vương quốc Ả Rập Saudi được xem như cái nôi của đạo Hồi, 2 thánh địa nổi tiếng nhất của Hồi Giáo đều tọa lạc tại Ả Rập Xê Út là: thánh địa Mecca và Medina.

  • Năm 1744 tại miền trung bán đảo Ả-rập hình thành một thực thể chính trị mới với sự liên minh của dòng họ Xê-út và lực lượng của giáo sĩ Abd-Al Wahab.
  • Năm 1756 nhà nước đầu tiên của dòng họ Xê-út ra đời, chiếm vai trò lãnh đạo chính tại bán đảo Ả-rập
  • Năm 1818: Nhà nước của đầu tiên của dòng họ Xê-út bị đánh đổ bởi đế quốc Ốt-tô-man.
  • Năm 1824: Nhà nước thứ của dòng họ Xê-út ra đời sau khi lật đổ đế quốc Ót-tô-man
  • Năm 1891 dòng họ Al Rashid lật đổ nhà nước thứ 2 của dòng họ Xê-út
  • Năm 1902 Abdul Aziz Al Saud phản công chiếm được vùng đấu Riyadh từ tay Al Rashid
  • Năm 1927 Anh công nhận ảnh hưởng của dòng họ Abdul Aziz Al Saud tại 2 tiểu vương quốc Hejaz và Nejd
  • Năm 1932 vương quốc Ả Rập Xê Út ra đời dựa trên sự hợp nhất của 2 tiểu vương quốc Hejaz và Nejd

3.     Chính trị

Đối nội:

Vương quốc Ả Rập Xê Út theo chế độ quân chủ chuyên chế, lấy kinh Cô-ran làm hiến pháp, luật Hồi giáo Sharia là bộ luật chính thức. Giới chức tăng lữ có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống văn hóa, kinh tế và chính trị của quốc gia này.

Năm 1953 lập ra hội đồng bộ trưởng do thủ tướng đứng đầu, chịu trách nhiệm trước quốc vương. Năm 2005, Ả Rập Xê Út có những chuyển biến theo hướng dân chủ hóa xã hội, cải thiện sự bình đẳng, kích thích phát triển kinh tế.

Hội đồng Shura là cơ quan lập pháp của vương quốc Ả Rập Xê Út, đệ trình các dự luật để nội các thông qua và sửa đổi các dự thảo luật.

Đối ngoại:

Ả Rập Xê Út hiện là thành viên của các tổ chức: Liên Hợp Quốc Thế Giới, Hội Đồng Hợp Tác Vùng Vịnh, G20, tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ, quỹ tiền tệ quốc tế, tổ chức hội nghị hồi giáo… Vương quốc Ả Rập Xê Út có ảnh hưởng rất lớn trong thế giới hồi giáo.

Một mặt Ả Rập Xê Út vẫn xem Mỹ là mối quan hệ trụ cột nhưng một mặt vẫn thiết lập các mối quan hệ mới: cải thiện quan hệ với Nga, cải thiện chính sách hướng Đông, đa dạng hóa chính sách đối ngoại.

4.    Kinh tế

Hầu hết diện tích lãnh thổ của Ả Rập Xê Út là sa mạc khô cằn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, vì vậy nông nghiệp của quốc gia này không có gì nổi bật.

Nền kinh tế của Ả Rập Xê Út hầu hết phụ thuộc vào dầu mỏ, đây là nước xuất khẩu dầu mỏ đứng đầu trên thế giới.

Trên đây là một số thông tin cơ bản về  lịch sử, kinh tế, chính trị, vương quốc Ả Rập Xê Út, rất mong nhận được những sự chia sẻ và đóng góp của bạn đọc để bài viết có thể hoàn thiện hơn.

 

Tại sao phụ nữ Ả Rập phải che mặt?

Hình ảnh những người phụ nữ Ả Rập che mặt, mặc quần áo kín xuất hiện rất nhiều trên các kênh thông tin. Bạn có cảm thấy lạ khi thời tiết ở đây khá nóng bức nhưng thay vì mặc quần áo thoáng mát họ lại mặc những trang phục như vậy. Vậy nguyên nhân ở đây là gì?

1.  Tại sao phụ nữ Ả Rập lại phải che mặt?

Hầu hết các quốc gia Ả Rập đều tin vào đạo I – xlam, đây là đạo có những giáo lý rất nghiêm ngặt về có tính trói buộc cao. Theo đó tất cả những thứ trên người phụ nữ đều rất xấu xa và việc để cho những người đàn ông nhìn thấy là điều xui xẻo, vì vậy tất cả những người phụ nữ phải che mặt, mặc quần áo kín mít để bảo vệ người chính mình và bảo vệ những người đàn ông, chỉ có chồng của họ mới được nhìn thấy.

Không chỉ che mặt, ở một số quốc gia, sự ràng buộc giành cho phụ nữ còn nghiêm ngặt hơn rất nhiều, khi quy định con gái từ 6 tuổi trở lên không được phép ra ngoài vào ban ngày, phải ở sâu trong nhà. Đến khi 10 tuổi bắt buộc phải mặc kín, có khăn che mặt chỉ để trừ đôi mắt bất cứ khi nào ra khỏi nhà. Và chỉ được đi trong các con ngõ nhỏ, và đi thật nhanh, phải về nhà trước khi mặt trời lặn

Việc phụ nữ phải che mặt khi ra đường, đến các nơi công cộng cũng được lý giải là giúp đàn ông không bị cám dỗ bởi nhục dục và để những người phụ nữ dễ hòa nhập với cộng đồng hơn. Theo một truyền thuyết về vua Ba Tư, nhà vua cho rằng nguồn gốc của mọi tội lỗi xuất phát từ chính sắc đẹp của người phụ nữ, vì vậy họ buộc phải che mặt kín khi ra đường.

Một truyền thuyết khác lại cho rằng phụ nữ buộc phải che mặt để thể hiện sự riêng tư, chỉ có người chồng  mới được nhìn thấy dung nhan của họ. Trong xã hội chỉ có những giai cấp thấp hèn là nô lệ và gái điếm mới không được che mạng. Việc phụ nữ che mạng chính là thể hiện sự giàu có, quyền lực.

Những quy định trên đã một phần tạo nên xã hội của các nước Ả Rập khi phụ nữ chủ yếu ở nhà, rất ít đi làm, chỉ có một số rất ít phụ nữ làm trong các cơ quan trực thuộc chính phủ, tuy nhiên những người này cũng phải che mặt khi tiếp xúc với đàn ông. Với một số ngành nghề bắt buộc phải di chuyển và tiếp xúc với con trai những bắt buộc phải do phụ nữ làm như nghề tiếp viên hàng thì sẽ thuê người nước ngoài.

Truyền thống này đã ăn sâu vào suy nghĩ, niềm tin của những người phụ nữ tại các quốc gia này. Ngày nay nhiều bộ luật đã được ban hành xóa bỏ quy định này, tuy nhiên nhiều người phụ nữ vẫn che khăn kín, thậm chí cảm thấy lo sợ thay vì sung sướng.

Thậm chí khi facebook cho ra đời các hình icon gây sốt thì tại các quốc gia Ả Rập này đến icon cũng phải che mặt.

2.  Trang phục của phụ nữ tại các quốc gia Ả Rập có gì khác nhau?

Quy định về việc bắt buộc những người phụ nữ phải che mặt cũng có điểm khác nhau ở các quốc gia. Một số trang phục cho phụ nữ tại các quốc gia Ả Rập có thể kể đến như:

  • Khimar: khăn choàng dài đến ngang hông, che kín hoàn toàn tóc, cổ và vai của người phụ nữ
  • Burqa và niqab: đây là những bộ đồ dài, che kín toàn bộ cơ thể, chỉ để lộ duy nhất đôi mắt.
  • Chador: Trang phục màu đen dài che kín từ đầu đến chân nhưng không dùng mạng che mặt
  • Al – Amira: đây là phong cách được hầu hết phụ nữ được hỏi yêu thích, đầu và tóc của họ được che kín bằng khăn trắng nhưng khuôn mặt được phô ra.
  • Niqab: khăn che mặt chỉ để hở mình mắt, có thể sử dụng một mạng che mặt riêng kết hợp cùng khăn chùm đầu.
  • Hijab: Hijab là một loại khăn choàng nhiều màu sắc, che được phần đầu và cổ của người phụ nữ nhưng vẫn để hở khuôn mặt